Thứ Sáu, 25 tháng 11, 2016

Nợ vay chung của vợ chồng khi ly hôn

Theo quy định tại Điều 25 Luật Hôn nhân và Gia đình, luật sư giải quyết ly hôn thì vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.
Tại khoản 3, Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.
Như vậy, khi Tòa án giải quyết vụ kiện ly hôn, nếu vợ, chồng có yêu cầu chia tài sản và giải quyết khoản nợ chung, thì Tòa án sẽ thụ lý giải quyết trong cùng một vụ án.

Theo đó, nếu vợ hoặc chồng hay tư vấn ly hôn cả hai vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có giao dịch với người khác để vay nợ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình (như sửa chữa, xây dựng nhà ở..), mà nay vợ, chồng không tự thỏa thuận được nghĩa vụ trả nợ là nghĩa vụ chung của vợ chồng, hay riêng của vợ hoặc chồng và có yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án sẽ căn cứ vào chứng cứ, lời khai để đánh giá, thủ tục xin ly hôn kết luận có hay không việc vay nợ; mục đích vay nợ, việc sử dụng tài sản vay nợ cho nhu cầu chung của gia đình, hay nhu cầu riêng của vợ, hoặc chồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án sẽ triệu tập chủ nợ tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và triệu tập người làm chứng (nếu có) để làm rõ các vấn đề tranh chấp. Chủ nợ có thể đưa ra yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền lợi của họ.
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đối với các vụ việc tranh chấp dân sự, đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và đúng pháp luật. Nếu không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó.
Sau khi ly hôn có tranh chấp tài sản được không?
Tôi và vợ tôi ly hôn vào năm 2005, trong thời gian sống chung, tôi có tạo lập được một mảnh đất và một căn nhà cấp 4. Khi Toà án giải quyết ly hôn, vợ tôi có viết lời cam kết trước sự chứng kiến của vị thẩm phán và cô thư ký với nội dung: Sau khi ly hôn, vợ tôi không tranh chấp phần nhà đất nói trên mà để cho hai con chung của chúng tôi (một cháu gái 20 tuổi và một cháu trai 10 tuổi).
Gần 2 năm sau, khi bản án ly hôn đã có hiệu lực pháp luật, tư vấn ly hôn đơn phương vợ tôi lại làm đơn gởi Tòa án yêu cầu chia tài sản chung. Tòa án đã thụ lý.
Vậy, xin quí Báo cho biết:
- Việc Tòa án chấp nhận thụ lý đơn tranh chấp của vợ tôi có đúng hay không?
- Vợ tôi có còn liên quan gì đối với phần đất nhà đất của tôi và các con không?
Vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin trả lời như sau: Vì bạn và vợ bạn đã có một thời gian là vợ chồng, chung sống hợp pháp với nhau và thủ tục ly hôn đơn phương có hai con chung. Pháp luật qui định về tài sản chung của vợ chồng như sau: “Tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân...”. Vì vậy, sau 2 năm ly hôn, vợ bạn gửi đơn tranh chấp tài chung của hai vợ chồng là không có gì sai.

Đó là quyền lợi của các bên đương sự, được pháp luật công nhận. Việc Tòa án thụ lý hồ sơ cũng hoàn toàn đúng pháp luật. Việc vợ bạn đã có lời cam kết trước đây là tư vấn thủ tục ly hôn cho tài sản cho hai con nhưng việc cho đó chưa hoàn tất do chưa làm thủ tục tước bạ sang tên. Vì vậy, lời cam kết trước đây của vợ bạn không có đủ giá trị pháp lý để làm chấm dứt quyền lợi của vợ bạn đối với khối tài sản chung nói trên.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét